Bàn về diễn thuyết – Phần I

Phạm Quỳnh
“Phạm Quỳnh – Luận giải văn học và triết học – NXB Văn hóa Thông tin – TT Văn hóa-Ngôn ngữ Đông Tây”

Người ta ở đời ai cũng có lúc cần phải ra nói chỗ công chúng. Dù không phải là nhà chính trị phải bàn bạc ở nơi nghị viện, nhà hộ biện phải chống cãi ở trước tòa án, hay là ông giáo sư phải giảng cho học trò nghe, mà ai ai cũng thường có dịp hoặc phải đọc bài viếng, hoặc phải tặng lời khen, hoặc phải cám ơn, hoặc phải chúc mừng, hoặc phải giới thiệu một người, hoặc phải tự thuật một việc, hoặc phải hiểu dụ cho kẻ dưới, hoặc phải trình bày với người trên, hoặc phải phân giải điều phải điều trái, lẽ thiệt lẽ hơn v.v., nghĩa là phải ra đứng nói ở một chỗ đông người, hết thảy đều nghiêng tai chú mục mà nghe mình, mình phải nói làm sao cho người ta nghe được, khiến người ta cảm lời mình nói, chịu lẽ mình bàn. Đó tức gọi là diễn thuyết hay là biện thuyết.

Nói chuyện thường trong một đám dăm ba người gọi là đàm thoại, đàm thoại thời nói thế nào cũng được, không có phương pháp gì, vì những người ngồi đấy thường thường là người quen biết, kẻ bạn thân, không cần phải tu sức lời nói cho lắm; vả lắm khi lại là câu chuyện chung, mỗi người nói một lời, không phải một người nói từ đầu chí cuối để cho cử tọa nghe. Nhưng diễn thuyết là nói chỗ công chúng cho nhiều người nghe, thời tức là một nghệ thuật riêng, có những phép tắc riêng, người diễn thuyết cần phải biết.

Diễn thuyết là thột nghệ thuật riêng, không phải là một khoa học, khoa học với nghệ thuật có khác nhau: khoa học là cái gì có thể truyền dạy, hễ biết thời làm được; nghệ thuật là cái gì không thể truyền dạy hết được, phải cần có tài năng tư cách riêng. Nay diễn thuyết là một nghệ thuật cũng như làm thơ, đánh đàn, nghĩa là tuy có những phép tắc có thể truyền dạy, mà ngoài phép tắc ấy lại phải có một cái tài riêng không phép nào thay được. Ta thường nghe nói: “Người này có tài ngôn ngữ, người kia có tài khẩu biện; anh này mồm mép giỏi, anh kia nói năng hoạt”, đó là cái tư cách riêng của người ta dẫu mấy bộ sách dạy về nghệ thuật biện thuyết cũng không thể làm cho người không có tài ấy thành ra có được. Nhưng người đã có tài riêng cũng phải trau dồi tập luyện mới được hoàn toàn. Mà người không có tài riêng lại cần phải học tập hơn nữa, cần phải giảng cứu những phương pháp trong nghề diễn thuyết, ngõ hầu có thể bổ cứu được ít nhiều vậy. Kí giả lâu nay vẫn để tâm về nghệ thuật diễn thuyết thường khảo cứu các sách, suy nghĩ cũng nhiều, nay nhân thấy quốc dân đã nhiều người xu hướng về lối diễn thuyết, muốn đem ý kiến riêng. bàn bạc một đôi lời hoặc có điều dùng được cũng mong tì ích một đôi phần cho một nghệ thuật mới nhóm lên ở nước ta là rất cần trong thời đại bây giờ.

I

Nghề diễn thuyết đời nào cũng là trọng, mà đời này lại là cần lắm nữa. Sự sinh hoạt của người ta, việc giao tế trong xã hội càng ngày càng phiền phức, thời những dịp phải dùng đến lời nói để thông đạt các tư tưởng lại càng nhiều. Văn từ cũng là một cách để thông đạt tư tưởng, những văn từ sánh với diễn thuyết hiệu lực có khi không mạnh bằng. Lời văn truyền đi được xa, nhưng có lẽ cảm không được sâu bằng lời nói. Bài văn dẫu hay đến đâu vẫn là một đám mực đen trên giấy trắng, người đọc phải để ý lắm mới hình dung cảm giác được cái vẻ linh hoạt trong câu thơ câu văn. Đến như diễn thuyết thời người có tài hùng biện, giọng nói gióng giả như tiếng kèn đồng, rập rình như hồi trong trận, thu thập nhân tâm trong giây phút, kích thích huyết khí như điện truyền, mạnh biết bao nhiêu!

Lại còn một lẽ nữa, là đời nay chuộng lấy mau. Đọc một bài văn phải thong thả ngẫm nghĩ mới lí hội được hết ý nghĩa tinh thần, mất nhiều thời giờ hơn là ngồi nghe một bài diễn thuyết, người nói phải đàn diễn tư tưởng mình thế nào cho người nghe không khó nhọc gì mà hiểu được ngay. Chắc rằng diễn thuyết không thể nói thâm trầm như văn chương được, nhưng mau và mạnh hơn văn chương biết bao nhiêu. Bởi thế nên diễn thuyết thật là một cái lợi khí ở đời nay, cái lợi khí ấy người các nước đều biết khéo dùng cả, người nước mình cũng phải nên tập dùng cho bằng người vậy.

Cứ thực thời nghề diễn thuyết ở nước ta xưa nay hầu như không có. Trừ khi ra việc làng là chỗ phải bàn nói ít nhiều, còn người mình cũng không có dịp gì là cần phải tuyên bố ý kiến cho nhiều người nghe. Quan hiểu dụ cho dân thường bằng trát bằng sức. Còn những lối bình văn đọc chúc, đọc tế thời là mốt cách ngâm riêng, không phải là cách nói thường.

Ở các nước thời không thế. Ngay ở nước Tàu về đời Xuân thu Chiến quốc đã có một hạng người gọi là hạng du thuyết, đi khắp các nước chư hầu để đem chính kiến hiến cho các bậc vua chúa, nhiều người vì tài khẩu biện mà đắc dụng với đời. Ở các nước Thái Tây, nhất là Hy Lạp, La Mã đời xưa, nghề biện thuyết lại thịnh hành lắm nữa. Các nhà Tây học ta chắc ai cũng biết Démosthène ở Hy Lạp, Cicéron ở La Mã là hai tay biện sĩ trứ danh của Âu châu đời xưa, dẫu ngày nay cũng vẫn lấy phép biện thuyết của hai ông làm khuôn mẫu vậy.

Đại để ở các nước châu Âu, từ cổ đại đến cận đại bao giờ nghề biện thuyết cũng vẫn thịnh hành, đời nào cũng có những tay biện sĩ có tài, còn lưu danh trong sử sách. Về Cổ đại, ở Hy Lạp, La Mã, nhân cái chế độ cộng hòa, người dân có quyền nghị luận việc nước, nên có nhiều những tay biện sĩ về chính trị. Về Trung cổ, tôn giáo thịnh hành, các học viện giảng cứu về các khoa thần học nhiều, nên có nhiều những tay biện sĩ về tôn giáo. Về cận đại, nhân phong trào tự do dân chủ, nhân chính thể đại biểu lập hiến, mà nghề biện thuyết về chính trị lại thịnh hành hơn xưa; lại nhân các chế độ tư pháp mở mang thay đổi mà nghề biện thuyết ở pháp viện cũng được phát đạt ra nhiều. Nói tóm lại thời các nước văn minh Âu châu, trong khoảng hơn hai nghìn năm, về các môn trong khoa ngôn ngữ, thật đã từng có kinh lịch nhiều. Cho nên bàn về nghề diễn thuyết, không thể không xét các tay biện sĩ Âu châu từ xưa đến nay đã kinh nghiệm về nghề ấy thế nào. Vậy xin chia ra hai phần: trước nói về nghệ thuật biện thuyết ở Âu châu duyên cách và hiện trạng thế nào, sau bàn về nghề diễn thuyết ở nước ta nên mô phỏng Thái Tây mà lập định phương châm thế nào.

II

Về nghề biện thuyết cũng như về văn chương, về triết học, các nước Âu châu vẫn lấy các tiền triết Hy Lạp, La Mã làm mô phạm. Các bậc ấy giải nghĩa thuật biện thuyết là cái “thuật làm cho người ta chịu tin và phục lẽ” (l’éloquence est l’art de persuader et de convaincre), Cicéron trong sách Biện thuyết luận (De Oratore) nói rằng: “Mục đích nhà diễn thuyết có ba điều: một là thuyết minh, hai là khoái trá, ba là cảm động người ta” (Le but de l’orateur ést de prouver, de plaire et de toucher) . Vậy thời nhà diễn thuyết trước phải bày các lẽ của mình cho người nghe, sau phải dùng những lời khôn khéo để cho người thích mà chịu nhận, sau lại phải mượn những giọng hùng hồn để cho người cảm mà phải theo. Nhà diễn thuyết mà khiến được người nghe phục lẽ và cảm theo mình, thế là đạt được mục đích vậy.

Cứ suy đó thời trong thuật diễn thuyết phải có ba mối lớn: một là “lí”, hai là “tính”, ba là “tình”. Lí là cái lẽ phải công nhiên, mình muốn tỏ bày cho người biết.

Phần này là quan trọng nhất, vì muốn nói phải có lí, nếu nói vô lí thời dẫu nói khéo đến đâu cũng không ai nghe được. Song lí tuy có một mà mỗi người quan sát ra một phương diện riêng. Phương diện riêng ấy là ý kiến riêng của mỗi người.

Nhà diễn thuyết phải lập ý kiến của mình cho chính đáng, nghĩa là tuy là cách quan sát riêng nhưng cũng phải cho thích hợp với lẽ công mới được ý kiến đã định rồi, phải biết suy diễn ra cho rõ ràng, chứng minh vào cho đủ lẽ, đó là về phần lí. Nhưng lẽ phải giữa đời khó lòng khiến cho người đời chú ý. Muốn cho người ta thiết đến phải đem hết tài năng của mình mà làm cho người đẹp ý thuận tình, nghĩa là phô bày cái tính cách mình cho tốt đẹp dễ yêu. Nay thí dụ cho dễ hiểu, người diễn thuyết muốn cho người nghe theo mình khác nào như người mê gái muốn cho gái theo mình, phải sửa sang tiếng nói, cách đứng điệu ngồi cho tốt đẹp dễ thương, mong lấy đẹp lòng mi nhân. Đó là thuộc về tính: tính đây nghĩa là gồm tài năng tư cách riêng của mỗi người, tức là nhân cách, tính cách vậy. Người diễn thuyết có được hai điều kiện về lí và tình đó là đã đạt được ý kiến mình cho người nghe rồi. Những thế cũng chưa đủ, lại phải làm thế nào cho người nghe mà cảm động nữa. Muốn cảm động, phải dụng đến “tình”. Tình là “thất tình”, là gồm những tình cảm trong lòng người. Dụng tình thời phải trước biểu lộ tình cảm trong lòng mình, sau mới kích động được tình cảm ở lòng người. Nghĩa là muốn cảm động người ta phải tự mình cảm động trước, hoặc làm ra bộ cảm động (đó là một phương thuật, dưới này sẽ bàn tường). Như việc đáng giận, đáng thương, đáng vui, đáng buồn, đáng cảm phục hâm mộ, tự người diễn thuyết phải ra giọng hâm mộ, cảm phục, buồn vui, thương, giận, thời mới khiến người nghe cũng giận, cũng thương, cũng vui, cũng buồn, cũng cảm phục, cũng hâm mộ vậy.

Đó là tôn chỉ thuật biện thuyết. Nay xét đến phương châm phép tắc trong thuật biện thuyết như sau này.

III

Các tiền triết Hy Lạp, La Mã cùng các học giả Âu châu đời nay đều phân biệt trong thuật biện thuyết có ba bộ phận lớn: một là “sáng ý” (invention), hai là “bố cục”, (disposition), ba là “lập từ” (élocution). Lại có một vài nhà thêm hai khoản nữa là “kí ức” (mémoire), và “cử động” (action).

Soạn một bài diễn thuyết, việc thứ nhất chắc là phải định cái chủ ý thế nào, rồi tìm những ý tứ, viện những chứng lẽ để giúp vào cái chủ ý đó, tức cũng như làm văn trước phải cấu tứ vậy. Thế gọi là “sáng ý”. Sáng ý nghĩa là nghĩ ra các ý tứ, suy ra các chứng lẽ, tức là tìm tòi cóp nhặt những tài liệu để dựng ra bài diễn thuyết. Những tài liệu này, thời tuy mỗi thể diễn thuyết mỗi khác, không thể gồm mà giải một câu cho hết được. Những nhà diễn thuyết bao giờ cũng phải định cái chủ ý cho chính đáng, cho phân minh, khác nào như lập cái trụ cột cho cả bài diễn thuyết cửa mình; có lẽ nhà diễn thuyết lại cần phải lập ý rõ ràng hơn nhà làm văn nhiều, vì nhà làm văn còn có khi lãng mạn hoài nghi được, chứ nhà diễn thuyết thời dù có nói đông nói tây thế nào, lan man suy diễn đến đâu, rút lại bao giờ cũng phải quy nạp về một lẽ cất yếu, khác nào như câu kết luận trong một bài, khiến cho người nghe khi đứng lên dầu không nhớ được hết cả cũng biết rằng diễn giả định nói cho mình nghe các đại ý như thế. Nhiều người diễn thuyết không lập ý phân minh trước, lúc nói lan man, đến khi đứng dậy người nghe không biết nói những gì. Đã định chủ ý rồi, bấy giờ mới viện lẽ tìm chứng, càng suy diễn được rộng, càng sưu tập được nhiều, càng như thêm vây cánh cho cái chủ ý của mình, nhưng bao giờ cũng phải quay về đó đừng để cho xa lạc mất đầu bài. Những chứng, những lẽ đó, tức là những tài liệu của bài diễn thuyết, mà những tài liệu này thời như trên kia đã nới, tùy mỗi thể mỗi khác. Tỉ như diễn thuyết về tài chính thời phải kê số mục cho nhiều, định tỉ lệ cho đúng, bằng chứng cho rộng, kết luận cho xác; lại như chống cãi trước tòa án thời phải dẫn chứng bên nguyên bên bị, cân nhắc bên lí bên tình, đàn đi hạch lại, phản phúc xoay vần, kiện nghĩa từng điều luật, biện bác từng lời khai, cốt phá cái nghi án của quan chưởng lí và chứng rằng kẻ bị cáo không đáng tội… – Phần “sáng ý” này là phần quan trọng nhất, vì chính là cải khung cái cất của bài diễn thuyết vậy.

Đã “sáng ý” rồi, nghĩa là đã đủ tài liệu rồi, phải xếp đặt cho có thứ tự, phô bày cho có tầng có lớp. Đó là phần “bố cục”. Bố cục nghĩa là bày cuộc, như ra trận đặt thế quân, đánh cờ bày thế cờ vậy. Xét các sách “tu từ học” (thétorique) của Hy Lạp, La Mã cũ thời phép bố cục phải theo thứ tự như sau này: trước là “khai mào” (exorde), rồi đến “lập luận” và “phân đoạn” (proposition et division), rồi đến “tự thuật” (narration), rồi đến “dẫn chứng” (preuve ou confirmation), rồi đến “biện bác” (réfetation), sau hết đến “kết luận” (péroraison). Không phải bài diễn thuyết nào cũng phải có bấy nhiêu phần đâu; nhưng bài diễn thuyết hoàn toàn thời đại để phải bố trí theo thứ tự như thế. Khai mào là mấy câu giáo đầu; đại khái như cám ơn người nào hay là hội nào đã mời mình đến nới, chúc mừng ông nào hay vị nào đã chiếu cố lại nghe, hoặc dùng lời khiêm tốn mà nói nhũn rằng mình vô tài, xin người rộng thứ, hoặc kể những nông nỗi khó khăn thuộc về đầu bài mình phải diễn hay là cơ hội lúc bấy giờ v.v… Cách giáo đầu là tùy người tùy cảnh vạn trạng thiên hình, không thể sao nói cho xiết được. Có khi người diễn thuyết đột ngột bắt đầu nói: “Tôi xin vào đầu ngay, không dám theo thói thường dùng lời giáo đầu dềnh dang vô ích để mất thì giờ của các ngài v.v.”, ấy thế cũng là một cách giáo đầu giản dị vậy.

– Lập luận hay là mệnh đề, là đề xướng đầu bài lên, và nói qua ý mình định “trị” ra phương diện nào. Phần này không cần nói dài, cất là trình bày vấn đề cho rõ ràng, cho người nghe biết rằng câu hỏi như thế là ý mình định trả lời ra thế nào. Bất tất phải nói ngay câu trả lời, nên để về phần kết luận; chỉ nên chỉ qua ý mình định giải quyết ra phương diện nào mà thôi.

– Vấn đề nào cũng có thể phân ra nhiều đoạn, có phân đoạn thời mới giải thích được rõ ràng, nếu cứ để hồn nhiên thời khó lòng xét đoán được hết các mành mối. Phân đoạn nghĩa là chia đầu bài ra nhiều đoạn rồi dưới cứ trục đoạn mà xét lần.

– Đã là phân đoạn rồi, phải tự thuật, nghĩa là cứ theo từng đoạn mà kể hết các việc các lẽ thuộc về mỗi đoạn. Tự thuật cất lấy rõ ràng. Kể việc thời phải có đầu đuôi, thuyết lí thời phải có mạch lạc.

– Nhưng mà những lẽ việc thuật ra đó, ví cứ nói không, không có chứng cớ, thời có khi người ta cho là tự mình cấu tạo ra, không có giá trị gì. Vậy thời tự thuật xong lại phải dẫn chứng. Dẫn chứng càng rộng càng hay, nhưng cốt phải cho thiết với việc mình nói, lẽ mình bàn. Nếu lẽ đã tự nhiên rõ ràng, việc đã hiển nhiên đích xác rồi, thời bất tất phải dẫn chứng làm chi cho rườm. Nhưng việc còn có thể hồ nghi được, lẽ còn có chỗ chưa xác đáng, thời bao giờ cũng phải dẫn chứng: “nói có sách, mách có chứng”, câu ấy đối với việc diễn thuyết lại là cần lắm, vì có thế mới khỏi cái tệ thanh đàm vu khoát và khiến được người nghe phải phục phải cảm.

– Trong khi dẫn chứng thời chắc là chỉ viện những việc những lẽ giúp được cho cái thuyết của mình, nhưng cũng có khi gặp những lẽ những việc trái lại, thời phải thừa cơ mà biện bác ngay, phá cho tan, diệt cho hết. Bằng không thời cũng phải dự phòng hoặc có người phản đối mình mà tự mình giả thiết ra một cái thuyết trái lại để ra tay mà phản đối lại trước. Như thế là giữ thế thủ mà phải biết dùng thế công vậy.

– Lẽ mình đã phát minh, lẽ mình đã biện bác, thế là cái thuyết của mình đã vững vàng rồi. Bấy giờ phải kết luận, nghĩa là gồm cả đại ý bài diễn thuyết lại bằng mấy câu hùng hồn cảm động, khiến cho người nghe phải kích thích mà lưu tâm chú ý vào lời kết toàn thiện. Dù đầu bài tầm thường giản dị thế nào, đến đoạn sau cùng này cũng phải có mấy câu văn chương cao cảm thời mới nổi. Nói suốt từ đầu tới cuối khác nào như trèo lên ngọn núi, dù cao, dù thấp, đến chỗ kết cũng là nơi tuyệt đỉnh, tới đó phải bao quát được cả con đường đã trải, nhìn rộng được khắp cảnh vật chung quanh vậy.

Bố cục về diễn thuyết cũng như là dàn bài về văn chương. Dàn bài rồi thời phải hành văn, bố cục rồi thời phải “lập từ”; lập từ tức cũng là một cách hành văn. Lập từ nghĩa là đặt lời nói, phô những ý kiến, những sự thực mình vừa kết tập bố trí ở trên ra lời nói, phần này cũng quan trọng lắm, cứ lấy biểu diện mà xét có lẽ lại quan trọng hơn hai phần trên nhiều. Vì dẫu tư tưởng tầm thường, bố trí không khéo, mà đặt lời hay, phô diễn đẹp, thời thế nào cũng nói được, người nghe không sành vị tất đã nhận ra nơi khuyết điểm, người sành bất quá cho là một cách ngụy biện, mà cuộc diễn thuyết không khi nào đến phải thất bại. Chứ như có tư tưởng hay, biết xếp đặt khéo, mà nói ra không đạt thời nguy lắm. Bởi thế nên có người có học vấn, có tri thức mà đến khi lên diễn đàn không khỏi ngập ngừng lúng túng; có kẻ học thức tầm thường mà hễ mở miệng nói là nói hoạt như không, dẫu tế nhận ra từng câu không có ý tứ gì lỗi lạc, nhưng nghe nói dễ dàng trôi chảy như thế, người nghe cũng phải vui tai. Đó là một cái tài đặc biệt, một cái khiếu tự nhiên, người nào có là may, người nào không cũng là một sự thiệt. Người nào có khiếu thông hoạt riêng ấy là người có tư cách về nghề diễn thuyết, nếu biết luyện tập khéo thời dễ trở nên một tay biện sĩ giỏi.

Người nào không có khiếu ấy thời có học tập cũng có thể bổ cứu được ít nhiều. Tục truyền rằng Démosthène là tay hùng biện đại danh ở Hy Lạp đời xưa, thuở nhỏ nói ngọng và giọng yếu lắm, thật không có tư cách về nghề biện thuyết; vậy mà ông hết sức tập luyện, ngày đêm chép đi chép lại những bài văn diễn thuyết cũ của các danh nhân thời trước, có khi hàng tháng không ra khỏi cửa nhà; người ta lại nói ông thường ngậm sỏi vào miệng ra đứng ngoài bờ biển, hô hào trước sóng, cho kì tiếng mình át được tiếng sóng, để tập cho quen những tiếng ồn ào ở nơi công chúng. Có kẻ ghen ghét ông nói rằng mỗi bài diễn thuyết của ông như có mùi dầu, có ý chê rằng ông chẳng tài giỏi gì, chẳng quả là chịu khó thức đêm, cặm cụi dưới đèn mà mài rửa từng câu mà thôi. Ông trả lời rằng: “Phải tôi chịu khó thức đêm, nhưng thiết tưởng cái thức đêm của tôi với cái thức đêm của thiên hạ cũng có khác nhau” – Coi chuyện đó thời biết rằng nghề diễn thuyết có tập cũng có hay vậy.

Nay nói về lập từ thời cứ theo các sách Tây, thường chia lời văn diễn thuyết ra làm ba lối: một là văn giản dị (style simple), hai là văn bình hòa (style tempére), ba là văn cao nhã (style sublime). Văn giản dị là văn nói những sự tầm thường, cốt lấy rõ ràng vỡ vạc, không cầu văn chương gì. Văn bình hòa và lối không cao không thấp, vừa phải trung bình, không vụ lấy diễm lệ quá mà thành ra cầu kì, nhưng cũng không để cho sỗ sàng quá mà thành ra bỉ lậu, cốt lấy hòa bình ôn nhã làm đầu. Phàm là văn diễn thuyết nên tập lối này là hơn cả. Đến văn cao nhã là lối cao thượng hùng hồn, dễ cảm động kích thích người ta; lối này phải cho tự nhiên, nếu cố ý làm ra hùng hồn thời không hay. Đại để ba lối đó không phải cách biệt nhau, trong một bài có thể gồm cả ba lối được, phải tùy nghi mà tham dụng, cốt là cho hợp với ý hợp với cảnh vậy.

Sáng ý, bố cục, lập từ là ba phần cốt yếu trong nghệ thuật diễn thuyết. Nhưng nhà diễn thuyết đứng trên diễn đàn khác nào như con hát đứng trên sân khấu. Con hát trước khi ra đóng tuồng phải thuộc cái vai của mình, lại phải tập những dáng bộ thuộc về vai ấy. Nhà diễn thuyết tuy không phải múa may quay cuồng, reo hò dậm dật như con hát nhưng cũng cần phải thuộc bài, cũng cần phải có bộ. Cho nên ngoài ba phần sáng ý, bố cục, lập từ có người lại thêm hai phần kí ức và cử động nữa. Kí ức là nhớ, là thuộc; cử động là bộ, là dáng. Đương khi diễn thuyết, chợt quên đi mất, thật là nguy hiểm; lại trong lúc diễn thuyết, ngời trơ như gỗ, không nhích không động, hay là cứ cắm cổ mà đọc như người tụng kinh, cũng là khó coi quá. Bởi thế nên kí ức và cử động hai phần đều là cần cả.

Nói về kí ức thời có một vấn đề khó giải cho các nhà diễn thuyết, là diễn thuyết có nên viết sẵn trước, hay là để ứng khẩu? Viết sẵn trước thời nên cầm giấy đọc hay là đọc thuộc lòng? Vấn đề này không giải quyết nhất định được, phải để tùy tài của mỗi người: có người có viết sẵn mới nhớ được, có người hễ lâm thời ứng khẩu ngay. Nhưng các nhà làm sách đều khuyên rằng dẫu những nhà có tài ngôn ngữ cũng không nên thi tài quá, và phàm diễn thuyết bao giờ cũng phải sửa soạn trước cho cẩn thận, hoặc là viết sẵn cả bài mà học thuộc lòng trước, hoặc là viết những phần cốt yếu, còn những câu đưa đẩy thời lâm thời ứng khẩu, hoặc chỉ xếp đặt đại ý, rồi đến lúc ra nói mới tùy thời đặt câu; nhưng dù theo cách nào cũng phải thuộc đầu bài cho kĩ, nếu không viết ra thành câu cũng phải sắp sẵn trong trí trước, không nên để cho đến lúc nói phải lúng túng tìm câu hay là mập mờ quên ý. Cách học thuộc lòng tuy là chắc hơn nhất, nhưng cũng nhiều khi gặp sự bất ngờ, như đương nói nửa chừng, quên bẵng đi mất, mà phàm đã quên như thế tất phải ngơ ngác một lúc, không thể đặt liền câu khác mà thay ngay vào được. Cho nên nhà diễn thuyết bao giờ cũng phải tập biết ứng khẩu, và cách hay hơn nhất là vừa thuộc lòng vừa ứng khẩu, thuộc lòng những câu cốt yếu, ứng khẩu những câu đưa đẩy, lợi dụng cả kí ức, cả trí tuệ, hai bên bổ trợ cho nhau. Còn cách dụng kí ức, thời không nên học thuộc lòng từng câu từng chữ, phải nên nhận kĩ mạch lạc ý tứ, câu dẫu có quên còn có thể đổi, mạch mà đã đứt thời khó nối vậy.

Nói đến cử động thời người diễn thuyết phải có cái thái độ hoạt bát, tuy không phải vận động như người mần tuồng, nhưng không nên trơ trơ như cái tượng gỗ. Dù nói gì cũng phải có dáng bộ linh lợi, như nói câu nào có cảm câu ấy, vui thời nét mặt tươi cười, buồn thời nét mặt rầu rầu, tức giận thời dậm chân dằn tay, cảm kích thời hình dung tĩnh túc; cãi lẽ thời hăng hái, phân giải thời ôn tồn, nói đùa thời tủm tỉm, nói mát thời lặng lẽ v.v… Nói tóm lại người diễn thuyết phải dùng cử động để giúp cho lời nói có ý vị, có tinh thần thêm cho lời nói được mạnh mẽ, được cả quyết. Người diễn thuyết chỉ khác cái máy nói là có cử động linh hoạt vậy.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s